Ngoài các tác nhân gây truyền nhiễm trên heo, còn có các tác nhân không truyền nhiễm cũng gây tiêu chảy nghiêm trọng. Hãy cùng xem qua bài để cập nhật thêm các kiến thức và lựa chọn phương pháp chăn nuôi tốt hơn.

Nguyên nhân tiêu chảy trên heo do tác nhân không truyền nhiễm

1. Độc tố nấm mốc

Tác nhân

Theo Tổ chức Nông lương Thế giới FAO, khoảng 25% cung cấp ngũ cốc thế giới có chứa một lượng lớn độc tố nấm mốc.  Tại nhiều nơi ở châu Á, tỷ lệ nhiễm độc tố nấm mốc cao hơn do các nhân tố khí hậu và phương thức thu hoạch, bảo quản hạn chế.

Bên cạnh những chất độc mà con người cố ý cho vào thực phẩm thì còn có các độc tố tự nhiên sản sinh trong quá trình bảo quản và chế biến, cụ thể là các độc tố nấm mốc Aflatoxin, Ochratoxin, Deoxynivalenol, Fumonisin, Zearalenone….

Trong số này, loại nguy hiểm nhất là Aflatoxin. Aflatoxin bao gồm 6 loại khác nhau (B1, B2, G1, G2, M1 và M3). Aflatoxin B1 là loại cực độc. Một lượng 0,03 ppm aflatoxin B1 từ khô lạc gây ra u gan.

Độc tố được hình thành và phát triển ngay tại vị trí canh tác, trong lúc bảo quản nguyên liệu, sản xuất và chế biến thực phẩm. Chúng xuất hiện theo nhiều cách khác nhau bằng nhiều phương tiện khác nhau, rất khó để nhận diện triệt để. Bắp và lúa mì là 2 nguyên liệu chứa độc tố nấm mốc phổ biến nhất.

Các loại độc tố và độc tính

Độc tố Nguyên liệu Ngưỡng nguy hiểm (ppb) Tác động trên heo
Aflatoxin (Afla) Bắp, đậu phộng, gạo,lúa mì, đậu 20 Giảm ăn, FCR lớn, hư gan, giảm sức đề kháng.
Zearalenone (ZEN) Bắp, lúa mì 50 Âm hộ, núm vú sưng phù, sa ruột, sa tử cung, buồng trứng teo, tuyến vú sưng, giảm chất lượng tinh, giảm thụ thai, mang thai giả, chết phôi, chậm lên giống lại.
Deoxynivalenol (DON) Bắp, lúa mì, lúa mạch 150 Giảm ăn, ói, tiêu chảy, giảm sức đề kháng, bại chân.
T-2 Bắp, lúa mì, lúa mạch. 50 Giảm sức đề kháng, xuất huyết, tổn thương miệng, da, hoại tử đuôi, bại chân.
Fumonisins (FUM) Bắp, lúa mì, lúa mạch. 750 Rối loạn hô hấp, phù phổi, tổn thương gan, tăng cảm nhiễm đối với vi khuẩn, virus, sẩy thai.
Ochratoxin (OTA) Bột huyết, bắp, lúa mì, gạo, lúa mạch. 50 Tổn thương thận, tăng tiêu thụ nước, rối loạn chức năng thận, tổn thương gan, tiêu chảy, suy giảm miễn dịch.

 

Bảng 1.1: Độc tố nấm mốc, ngưỡng nguy hiểm và tác động trên heo, theo Karin Naehrer (2015)

Tác hại của độc tốc nấm mốc

Độc tố nấm mốc tác hại trên mọi khía cạnh sức khỏe, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể heo: tiêu hóa, hô hấp, sinh sản, niêm mạc…

Độc tố nấm mốc ảnh hưởng đến đường ruột của động vật.

Khi ăn phải thực phẩm hoặc thức ăn bị ô nhiễm, đường tiêu hóa đặc biệt bị ảnh hưởng bởi độc tố nấm mốc. Nói chung, hàng rào đường ruột trong đường tiêu hóa có chức năng như một bộ lọc chống lại các độc tố nấm mốc có hại. Tuy nhiên, một số độc tố nấm mốc đã được phát hiện có tác dụng gây bất lợi cho đường tiêu hóa (độc tố nấm mốc có thể làm thay đổi các chức năng bình thường của ruột như chức năng rào cản và khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng).

Aflatoxin

AF là một loại độc tố nấm mốc do Aspergillus flavusAspergillus parasiticus tạo ra. Độc tố nấm mốc phổ biến nhất được tìm thấy trong thức ăn cho người và thức ăn chăn nuôi là AFB1 (Aflatoxin B1). Trên thực tế, AFB1 là chất gây ung thư gan mạnh nhất được công nhận ở động vật có vú và được IARC (International Agency for Research on Cancer) liệt kê là chất gây ung thư Nhóm I. Gan là vị trí mục tiêu chính của AFB1. Ngoài độc tính trên gan của AFB1 đã được đề cập ở trên, các tác dụng phụ khác bao gồm chậm phát triển, ức chế miễn dịch và độc tính gen đã được báo cáo (Kumar et al., 2016).

Ở chuột được cho ăn AFB1, sự thâm nhập bạch cầu và tế bào lympho đã được quan sát thấy ở lớp đệm của niêm mạc ruột. Ở tá tràng và hồi tràng, tiếp xúc AFB1 gây ra các tổn thương ở ruột như phát triển không gian dưới biểu mô và thoái hóa nhung mao. Mặc dù AFB1 là loại độc tố nấm mốc đe dọa tính mạng nhất, nhưng độc tính của nó đối với đường ruột có thể so sánh với các loại độc tố nấm mốc khác.

Zearalenone (ZEN)

Zearalenone (ZEN) là một loại độc tố nấm mốc chủ yếu được tạo ra bởi Fusarium graminearum và Fusarium culmorum trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi. Tỷ lệ đồng xuất hiện của ZEA với FB và DON cao cho thấy rằng các độc tố nấm mốc này có thể tham gia vào một loạt các tương tác cộng hưởng và cộng hưởng.

Mặc dù cơ quan sinh sản là mục tiêu chính để ZEA gây ra độc tính, các tác dụng phụ của ZEA trên các vùng GI đã được báo cáo. Ảnh hưởng của việc tiêu hóa ZEA lên đường tiêu hóa không gây bất lợi so với các độc tố nấm mốc khác. Tuy nhiên, những con lợn ăn phải ZEA không cho thấy sự thay đổi về chiều cao của nhung mao, độ dày của niêm mạc và số lượng tế bào cốc (Gajęcka et al., 2016). Tóm lại, ZEA đóng một vai trò tiêu cực đối với sức khỏe đường ruột mặc dù không có thay đổi mô học rõ ràng nào được quan sát thấy.

Trichothecenes

Fusarium graminearum là loài nấm chính tạo ra tricothecenes. Tất cả tricothecenes đều chứa epoxit ở vị trí C12, C13, chịu trách nhiệm cho hoạt động độc học của chúng. Độc tố T-2 (Loại A) và DON (Loại B) là những độc tố nấm mốc chính gây độc cho người và động vật qua đường uống (Nathanail et al., 2015). Deoxynivalenol (DON) là một loại độc tố nấm mốc tự nhiên chủ yếu do Fusarium graminearum tạo ra. Nó còn được gọi là độc tố nôn do tác dụng gây nôn mạnh sau khi tiêu thụ, vì nó được vận chuyển vào não, nơi vận hành các thụ thể dopaminergic (Sobrova et al., 2010).

Tác dụng độc của trichothecenes ở động vật (bò sữa, lợn, gà thịt và chuột) bao gồm giảm glucose huyết tương, giảm số lượng tế bào máu và bạch cầu, giảm cân, tăng bạch cầu độc tố, cũng như những thay đổi bệnh lý ở gan và dạ dày (Adhikari et al., 2017). Trong đường tiêu hóa, sự giảm hấp thu glucose được quan sát thấy sau khi nhiễm độc T-2 và DON do biểu hiện mRNA SGLT1 (chất vận chuyển glucose) bị ức chế. Ngoài việc hấp thụ glucose, SGLT1 cũng chịu trách nhiệm tái hấp thu nước, do đó giảm chất vận chuyển SGLT1 cũng gây ra tiêu chảy (Grenier and Applegate, 2013).

Fumonisins(FUM)

Fusarium verticillioides là nhà sản xuất chính của fumonisin, trong đó fumonisin B1 (FB1) có nhiều nhất trong tự nhiên. Ở động vật, fumonisin đã được phát hiện là gây phù phổi và tích dịch màng phổi ở lợn; leukoencephalomalacia ở ngựa; và ung thư gan (Hepatocarcinoma) ở chuột (Edite Bezerra da Rocha et al., 2014).

Sử dụng các dòng tế bào ruột (IPEC-1, Caco-2 và HT29), Minervini et al., 2014 cho thấy FB1 làm giảm khả năng sống và tăng sinh của tế bào theo cách phụ thuộc vào nồng độ. FB1 đã thay đổi tính toàn vẹn của hàng rào ruột bằng cách ngăn chặn mức độ biểu hiện protein của mối nối chặt chẽ (Tight Junction). Tóm lại, trong ruột, FB1 làm tăng quá trình apoptosis của tế bào ruột, giảm hàng rào đường ruột và gây ra rối loạn chức năng miễn dịch.

Ochratoxin (OTA)

Ochratoxin chủ yếu được tạo ra bởi các loài Aspergillus và các loài Penicillium. Ochratoxin A (OTA) là độc tố nấm phổ biến nhất và có liên quan của nhóm này. Vị trí mục tiêu chính của OTA là thận.

Ngoài tác dụng đối với thận, các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy những thay đổi đường ruột do OTA gây ra. OTA làm thay đổi sự hấp thụ dinh dưỡng trong ruột. Các nghiên cứu in vitro chứng minh rằng OTA làm giảm hấp thu glucose thông qua chất vận chuyển SGLT1 (Peraica et al., 2011). Sự thay đổi của hệ thống miễn dịch làm cho ruột dễ bị nhiễm trùng. OTA phát huy tác dụng của nó đối với đường ruột thông qua việc giảm hấp thu chất dinh dưỡng, phá vỡ tính thẩm thấu của ruột, quá trình tự chết của tế bào và điều chỉnh hệ thống miễn dịch.

Như vậy có thể nói rằng độc tố nấm gây ra những tác hại rất lớn và hậu quả vô cùng nghiêm trọng động vật với các tổn thương như sau: Tổn thương tế bào gan do Aflatoxin, gan chuyển màu từ vàng tươi, sưng phồng, nổi nốt hoại tử trắng và dễ vỡ về sau; thận sưng to do cố gắng bài thải độc tố ra khỏi cơ thể; niêm mạc ống tiêu hóa bị bào mòn do bong ra và khô lại làm cản trợ vận chuyển thức ăn trong ống tiêu hóa; ở thú mang thai có thể gây chết thai, sẩy thai. Ngoài ra, heo ăn thực phẩm nhiễm DON sẽ làm giảm mạnh tính ngon miệng hoặc lên men phân giải các nguồn dưỡng chất, từ đó làm thú không thích ăn do mùi vị thức ăn đã thay đổi.

Nguyên nhân tiêu chảy trên heo do tác nhân không truyền nhiễm

Phòng tránh và kiểm soát độc tố nấm mốc

Độc tố nấm mốc có trong nguyên liệu và cả trong thức ăn chăn nuôi đã thành phẩm. Việc kiểm soát độc tố nấm mốc nên được thực hiện ngay từ đầu để đảm bảo nguồn thức ăn không nhiễm độc cho heo vì khi nấm mốc đã phát triển thì thức ăn thành phẩm sẽ không tránh khỏi tình trạng có độc tố.

Nên chọn nguyên liệu mới làm thức ăn chăn nuôi. Nguyên liệu và thức ăn thành phẩm cần được chế biến và bảo quản đúng yêu cầu sản phẩm nông nghiệp sấy khô. Kiểm tra, khống chế độ ẩm và nhiệt độ thích hợp trong quá trình dự trữ nguyên liệu. Sử dụng các chất chống nấm mốc có hiệu lực cao ngăn chặn sự phát triển nấm mốc trong thức ăn là acid propionic và các muối của nó.

Thường xuyên kiểm tra nguyên liệu trước, trong khi dự trữ và lúc sử dụng để trộn thức ăn cho thú. Bảo quản nguyên liệu nơi khô ráo.

Vô hiệu hóa độc lực mycotoxin bằng phương pháp vật lý và hóa học: ngoài các biện pháp như xử lý nhiệt, ánh sáng, sử dụng ozone để oxi hóa mycotoxin và sử dụng chất kiềm NH3 thì việc sử dụng chất hấp phụ bề mặt các lọai mycotoxin xem ra có hiệu quả cao và ít chi phí nhất hiện nay.

Hạn chế sự hấp thu độc tố nấm mốc vào cơ thể heo bằng cách bổ sung các chế phẩm hấp phụ nấm mốc nếu không kiểm soát được tình trạng nấm mốc trong nguyên liệu.

2 Dinh dưỡng

Nguyên nhân

Người ta thường hay cho rằng khi heo bị tiêu chảy, thì nguyên nhân là do các mầm bệnh như vi khuẩn E. coli, Salmonella, vi rút Rota hoặc các vi khuẩn khác gây nhiễm trùng đường ruột. Tuy nhiên, đôi khi nguồn dinh dưỡng cũng được xem là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy.  Tiêu chảy do dinh dưỡng xuất phát từ ba lỗi chính trong việc xây dựng khẩu phần thức ăn cho heo.

Thứ nhất: Sau cai sữa, khẩu phần ăn của heo cần được tăng lên để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng. Nếu không, heo sẽ đói, dẫn đến tình trạng ăn nhiều thức ăn hỗn hợp khô giàu dinh dưỡng. Khi heo ăn quá mức sau thời gian đói, sẽ dấn đến việc dư thừa lượng chất nền (năng lượng và protein) cho sự gia tăng của vi sinh vật cơ hội.

Thứ hai: Khẩu phần ăn có chất lượng thấp nhằm giảm chi phí thức ăn. Điều đó làm heo giảm tính thèm ăn và tiêu hóa kém, dẫn đến tồn đọng các thành phần không tiêu hóa được làm nền cho sự phát triển của vi sinh vật.

Thứ ba: Một số thành phần thức ăn có chứa tác nhân kháng dưỡng (protein chứa glycin và nonglycin) gây viêm đường tiêu hóa và suy thoái biểu mô. Khẩu phần ăn có hàm lượng cao đường đơn và khoáng chất có thể gây mất cân bằng thẩm thấu qua biểu mô ruột, gây sự tiết nước quá mức trong lòng ruột làm heo tiêu chảy. Khẩu phần protein thấp làm giảm quá trình lên men protein trong ruột già (Nyachoti et al., 2006).

Thí nghiệm trên heo cai sữa cho kết quả rằng khẩu phần protein cao làm tăng sự phát triển của vi khuẩn E.coli (ETEC) trong ruột già (Opapeju et al., 2009); trong khi khẩu phần protein thấp làm giảm E.coli (ETEC) trong ruột già heo con cai sữa. Ngoài ra khẩu phần protein cao cũng làm tăng pH kết tràng, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn gây bệnh phát triển(Wen et al., 2018).

Kiểm soát

Heo cai sữa nên được cho ăn hạn chế trong tuần đầu tiên, sau đó tăng dần khẩu phần ăn cho đến khi heo đạt được mức ăn tự do. Một vài nghiên cứu đã báo cáo rằng cho heo ăn khẩu phần protein thấp trong 14 ngày sau cai sữa làm giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy (Heo et al., 2008) (Heo et al., 2009). Có nhiều biện pháp hạn chế sự dư thừa protein mà vẫn đảm bảo nhu cầu protein cao của heo như bổ sung enzyme để tăng sự phân giải protein trong khẩu phần; giảm lượng protein thô trong khẩu phần nhưng vẫn đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu axit amin bằng các nguồn protein tiêu hóa cao; cân bằng hệ vi vật đường ruột và hỗ trợ hệ miễn dịch (probiotic, prebiotic, các axit béo mạch ngắn và mạch trung,…).

Một lượng chất xơ chức năng làm tăng cường sự di chuyển của các chất chứa trong ruột, tăng khả năng giữ nước và tiết dịch. Bổ sung chất xơ vào khẩu phần ăn của heo con nhằm mục đích tăng đào thải vi sinh vật gây bệnh, ngăn vi sinh vật bám vào ruột và tạo hệ tiêu hóa tốt.

Xử lí nhiệt có thể giúp hạn chế và ngăn chặn các hợp chất ức chế hấp thu dinh dưỡng từ đậu nành và các loại đậu khác vì heo dễ tiêu chảy khi tiêu thụ nhiều các sản phẩm này. Những con heo đang bị tiêu chảy nặng thì không nên sử dụng những thành phần trên. Lựa chọn nguồn protein từ đậu là việc quan trọng để xây dựng khẩu phần ăn mới cho heo con.

Xem nguyên nhân gây tiêu chảy trên heo: https://kienthucchannuoi.vn/kiem-soat-tieu-chay-o-heo-con/

Xem các thiết bị sưởi ấm vật nuôi: https://channuoithuy.com.vn/danh-muc/thiet-bi-chan-nuoi-gia-suc/thiet-bi-suoi-am-vat-nuoi/

 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây